Cải tiến cách ăn
uống để chống bệnh tăng huyết áp
GS. VŨ ĐÌNH HẢI
Bệnh cao huyết áp là biểu hiện mạch máu và tim phải làm việc quá tải và có thể dẫn đến nhiều căn bệnh nguy hiểm. Ảnh: eninsulacardiology
Ai cũng biết rằng, để phòng cũng như đề chữa bệnh tăng
huyết áp, thì cách ăn uống hợp lý có tầm quan trọng lớn nhất.
Trọng tâm tất nhiên là ăn giảm muới, ăn đúng mức cho khởi béo,
bớt rượu. Nhưng còn một số điều nên theo dưới đây để chống tăng
huyết áp tốt hơn.

Các thức ăn thông dụng có thể được xếp loại thành 5 nhóm
như sau:
1. CÁC CHẦT BÉO (CÒN GỌI LÀ LIPID)
Mỡ và dầu đều là thức ăn cho rất nhiều calo: 900 calo mỗi
lạng mỡ lợn, mỡ bò hay dầu lạc, dầu vừng. Vì vậy, muốn giảm cân
nặng, chống béo, cần hạn chế ăn cả mỡ dầu, để giảm bớt calo đưa
vào cơ thể.
Tuy nhiên, nói về tác hại đối với hệ tim mạch thì các loại
dầy và mỡ rất khác nhau. Có những chất béo chứa nhiều axít beó bão hòa làm tăng
cholesterol "xấu" nên gây xơ vữa động mạch nhiều hơn. Mỡ bò, mỡ cừu chứa tới 90%
là axít bão hòa. Dầu dưà và dầu cọ cũng có hại như vậy, tuy chúng được làm từ
thực vật.
Có nhiều thức ăn cũng béo nhưng chứa tương đối ít axít bão
hòa (dưới 40%), đó là những dầu thảo mộc như dầu đậu nành, dầu hướng dương, dầu
ngô. Đặc biệt, dầu ô-liu đã góp phần giảm tỷ lệ bệnh tim ở vùng dân cư Địa Trung
Hải, nên rất được ưa chuộng. Những thức ăn này không gây những mảng vữa xơ trong
lòng động mạch chủ nên không có hại cho hệ tim mạch, thậm chí người ta còn thấy
chúng "dọn sạch" bớt các mảng vữa xơ đi. Đó là những thức ăn nên dùng. Dầu lạc ở
vị trí trung gian có 70% axít bão hòa cũng tương đối tốt.
Về cholesterol, ai cũng biết là một chất béo có hại cho hệ
tim mạch, nhưng cũng phải công nhận rằng nó cũng lại rất cần cho đồi sống. Kiêng
cholesterol quá đáng cũng không tốt cho sức khoẻ. Hơn nữa, chỉ có ? cholesterol
trong máu là do ăn vào, còn ? kia do các tế bào tự tổng hợp ra. Dù kiêng kỹ đến
đâu, cũng không thể ảnh hưởng đến ? đó được.
Lòng đỏ trứng gà, vịt chứa khá nhiều cholesterol, mỗi quá
trứng trung bình 17gr chứa tới 220mg cholesterol và nhiều chất mỡ, chủ yếu là
axít bão hòa. Như vậy, người huyết áp cao, mỗi tuần có thể ăn 2 - 3 lòng đỏ
trứng, không cần phải "kiêng tuyệt đối" như người ta vẫn tưởng trước đây. Lòng
trắng trứng không chứa chất béo, nên không phải kiêng. Sữa bò cũng như sữa dê,
sữa trâu cũng có khá nhiều cholesterol (110 mg/lít) và axít bão hòa (36g/lít),
không nên uống nhiều quá. Sữa đã loại bớt chất béo (sữa gầy) có thể dùng thoải
mái hơn. Bơ lại càng nên tránh vì quá nhiều cholesterol (280mg/100gr) và axít
bão hòa (77gr/100gr). Sữa chua có ít chất mỡ hơn sữa tươi và ít cholesterol hơn.
Gần đây, người ta nhận thấy rằng mỡ trong thịt gà và trong cá
cũng ít axít béo bão hòa, nên có tể ăn tốt, không phải kiêng như đối với mỡ bò,
mỡ lợn, mỡ sữa.

Để dễ nhớ, có thể tóm tắt như sau về các thức ăn nhiều
chất béo:
Nên ăn: Các dầu thực vật, trừ dầu dừa và dầu cọ
(thị trường nuớc ta có nhiều dầu cọ, nên chú ý khi mua). Tốt
nhất là các dầu ô-liu, dầu quì (hướng dương), dầu ngô (bắp), dầu
đậu nành, dầu vừng (mè), rồi đến, dầu cám, dầu lạc (phộng).
Nên kiêng: Các mỡ động vật, nhất là mỡ lấy từ sữa như
bơ, rồi đến mỡ cừu, mỡ bò, mỡ lợn (heo) có thể dùng ít. Về dầu
thực vật, nên kiêng 2 thứ là dầu dừa và dầu cọ. Riêng mỡ cá và
các loại chim như gà, vịt. có tác giả cho rằng không có hại, có
thể ăn bình thường.

2. CÁC CHẦT ĐƯỜNG BỘT (GỌI CHUNG LÀ GLUCID)
Đây là những nguồn năng lượng chính của cơ thể, cần ăn đủ
theo yêu cầu. Ắn nhiều quá sẽ sinh béo, tăng cân, nhưng ít quá
thì không đủ nhiên liệu để sống và làm việc, dẫn đến gầy sút,
suy dinh dưỡng, làm mồi cho nhiều bệnh khác.
Nhưng các loại đường thì nên hạn chế vì có thể gây hại cho
răng, cho tụy, nhất là ở người tiểu đường. Đường gluco ăn cũng có hại như đường
kính, không hiểu tại sao người ta lại cứ cho là bổ! Mật ong cũng nên hạn chế như
các loại đường khác. Các loại hoa quả quá ngọt như na, mít, vải cũng nên dùng có
mức độ. Các chất bột trong ngũ cốc là nguồn năng lượng tốt hơn. Vào trong máu,
chúng cũng biến thành đường, nhưng chậm hơn, có thể có thì giờ tiêu thụ mà không
bị tràn ngập như các loại đường nhanh kể trên. Gạo rất tốt mà lại phù hợp với
thói quen người Việt Nam. Các lương thực khác có thể tùy sở thích mà thay thế là
bột mì, ngô, khoai, sắn v.v.

3. CÁC CHẦT ĐẠM
Thịt và cá, người tăng huyết áp không cần hạn chế, nhưng
cá tốt hơn thịt đối với hệ tim mạch vì có những chất bảo vệ tim
hiệu quả hơn. Cả 2 thức ăn đều không gây béo, trừ khi có lẫn
nhiều mỡ.
Các đạm thực vật cũng rất tốt, nhất là đạm trong đậu nành,
trong lạc và các loại đỗ. Gạo cũng chứa nhiều đạm tốt.
4. RAU VÀ QUẢ
Rau và quả là những thức ăn rất tốt cho người bị tăng
huyết áp cũng như bị các bệnh tim mạch khác.
Một laø, chúng chứa nhiều kali và hầu như không có
natri, hai điều này rất có lợi cho người tăng huyết áp.
Hai là, rau quả chứa nhiều vitamin thiên nhiên, tốt
hơn các vitamin tổng hợp. Chúng lại còn chứa nhiều chất chống
oxy hóa, góp phần giữ cho các tế bào được trẻ trung lâu hơn.
Ba là, chúng đem lại cho cơ thể nhiều chất xơ, cần
thiết cho hoạt động tiêu hóa, và có thể còn góp phần tống
cholesterol ra ngoài cơ thể.
Bốn là, chúng cung cấp rất ít calo, chống được béo,
giảm được trọng lượng.
Nước ta bốn mùa đều saün rau quả, cần tận hưởng sự ưu đãi đó
của thiên nhiên.
5. CÁC MUỐI KHOÁNG
Các muối khoáng trừ Natri, đều có lợi cho sức khỏe chung:
Kali, Magiê, Calci.
Tóm lại, các bữa ăn ở gia đình cần luôn đổi món, chế biến
sạch sẽ, gia vị vừa phải, không khí tình cảm. là rất tốt để giữ sức khỏe nói
chung và phòng bệnh tim mạch nói riêng. Không cần phải mua các thuốc "bổ", chưa
chắc đã có lợi gì hơn, mà phí tiền là cái chắc!
*

Điều chỉnh lối sống để điều trị bệnh tăng huyết áp
Tác giả : BS. BÙI NGUYÊN KIỂM (BV. Xanh Pôn - Hà Nội)
Tỷ lệ số bệnh nhân tăng huyết áp ngày càng tăng trên thế giới - cả ở các nước phát triển và đang phát triển, đã khiến nhiều
người đặt ra câu hỏi: liệu đây có phải là cái giá phải trả của xã hội
phát triển? Nếu việc thay đổi lối sống đang là nguyên nhân của một số
bệnh thời hiện đại, thì bệnh tăng huyết áp là một thí dụ điển hình.
Nhiều
thử nghiệm lâm sàng được báo cáo đã cho thấy việc điều chỉnh lối sống
có tác dụng làm giảm huyết áp, tăng hiệu quả của thuốc trị huyết áp và
làm giảm nguy cơ bị biến cố tim mạch; Vì vậy việc thực hiện lối sống
lành mạnh là một tiêu chuẩn chính để phòng ngừa tăng huyết áp, là biện
pháp đầu tiên và là một phần không thể thiếu trong khi điều trị bệnh.
Điều chỉnh lối sống bao gồm các vấn đề:
1. Giảm cân ở người thừa cân hoặc béo phì
Các
nghiên cứu cho thấy, nếu tăng 5-10kg trọng lượng cơ thể so với cân nặng
chuẩn (lúc 18 tuổi) sẽ làm tăng gấp đôi nguy cơ xuất hiện bệnh tăng
huyết áp. Tăng cân trong thời gian dài là yếu tố nguy cơ (chiếm tới 48%)
khả năng mắc bệnh. Nguy cơ này tăng dần ở phụ nữ cao tuổi, sau mãn
kinh. Những người béo phì, bụng to (với vòng thắt lưng > 85cm ở nữ và
> 98cm ở nam) cũng có nhiều khả năng bị tăng huyết áp.
Trọng
lượng cơ thể của mỗi người được theo dõi bằng chỉ số khối cơ thể: lấy
cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (mét).Chỉ số khối cơ thể ở
người Việt Nam khác với các dân tộc có tầm vóc to lớn, nếu con số này
> 22 đã là dư cân và > 25 được coi là béo phì. Tốt nhất phải duy
trì chỉ số khối cơ thể từ 18-22, tức là giữ trọng lượng cơ thể ở mức
bình thường.Với người thừa cân hoặc béo phì, cứ giảm 10kg cân nặng sẽ
làm giảm 5-10mmHg mức huyết áp tâm thu.
2. Tuân thủ chế độ ăn nhiều trái cây, rau, các thực phẩm ít chất béo, giảm ăn các loại mỡ bão hòa và mỡ toàn phần
Nên
ăn ba bữa một ngày. Khoảng một nửa thực phẩm là chất bột, rau xanh,
trái cây. Không dùng nhiều mỡ và chất ngọt. Cố gắng ăn các thức ăn có
nhiều chất xơ hòa tan như: đậu xanh quả, đậu hạt các loại, măng... Hàng
ngày nên ăn khoảng 55-85g các chế phẩm từ sữa như pho mát, sữa chua...
Mỡ
bão hòa có nhiều trong mỡ động vật, bơ, pho mát, dầu dừa, dầu cọ...
Người ta khuyên rằng, khẩu phần ăn hàng ngày (tính theo mức cung cấp
năng lượng) không quá 1/10 lượng mỡ bão hòa. Đây cũng đã là mức quá cao
với người béo phì hoặc người thừa mỡ trong máu.
Tuân thủ chế độ ăn như trên có thể sẽ giúp giảm huyết áp tâm thu từ 8-14mmHg.

3. Chế độ ăn giảm muối, giàu kali và can-xi
Nhu
cầu muối ăn trung bình của một người khoảng 15g/ngày, trong đó có tới
10g sẵn có trong thực phẩm tự nhiên, vì vậy chỉ nên bổ sung thêm một
thìa cà phê muối ăn/ngày là đủ.
Người
ta cũng thấy có mối tương quan tỷ lệ thuận giữa lượng muối ăn vào và
bệnh tăng huyết áp. Những người ở vùng có thói quen hoặc tập quán ăn
nhiều muối thì tỷ lệ tăng huyết áp sẽ cao hơn những người ăn vào lượng
muối bình thường, và nếu ăn hạn chế muối tương đối sẽ phòng được bệnh.
Ngay cả ở những người đã bị tăng huyết áp, nếu giảm bớt khoảng 1/4 lượng
muối ăn vào, có thể tránh được phân nửa những biến chứng của bệnh tăng
huyết áp.
Mức độ ăn
kiêng được khuyến cáo rộng rãi là không quá 6g muối ăn một ngày. Chỉ với
chế độ ăn giảm muối, có thể sẽ làm giảm huyết áp tâm thu từ 2-8mmHg.
Ăn
các thức ăn có nhiều chất kali như chuối, cam, chanh, trái cây tươi,
rau xanh, có tác dụng chống tăng huyết áp và kiểm soát huyết áp tốt ở
bệnh nhân đã bị tăng huyết áp.
Dùng
các thức ăn chứa nhiều can-xi, ma-giê. Nhiều người ăn ít các thức ăn
chứa can-xi hoặc ma-giê đã bị bệnh tăng huyết áp. Nhưng ngược lại, dùng
quá nhiều can-xi hoặc ma-giê cũng không phải là cách làm giảm huyết áp.

4. Tăng cường hoạt động thể lực
Nên
tập thể dục, vận động cơ thể đều đặn như đi bộ nhanh, chạy chậm ít nhất
30 phút mỗi ngày hoặc chơi các môn thể thao. Đối với người cao tuổi
hoặc người có một số bệnh lý khác cần lưu ý không được tập quá sức. Hoạt
động thể lực hàng ngày có thể làm giảm 4-9mmHg huyết áp tâm thu.

5. Hạn chế uống rượu
Uống
nhiều rượu dễ làm tăng huyết áp. Ngoài ra rượu còn có thể gây kháng
thuốc khi điều trị và làm bệnh nhân bị tăng huyết áp, dễ dẫn tới tai
biến mạch máu não. Nam giới mỗi ngày không uống quá 2 ly nhỏ, tương
đương 30ml ethanol (tức khoảng 720ml bia hay 300ml rượu hay 90ml
whisky). Đối với phụ nữ và người nhẹ cân, lượng rượu nên uống chỉ bằng
một nửa nam giới.
Một
số nghiên cứu cho thấy, nếu dùng thường xuyên một lượng rượu nhỏ sẽ có
tác dụng làm giảm các nguyên nhân gây tử vong nói chung và do tim mạch
nói riêng. Uống rượu với mức độ vừa phải có thể làm giảm huyết áp từ
2-4mmHg.
Điều chỉnh
lối sống để điều trị bệnh tăng huyết áp là việc hoàn toàn có thể thực
hiện ở gia đình; Là phương pháp không tốn kém và khả thi, giúp giảm được
dân số bị tăng huyết áp, qua đó giảm được bệnh tật, tử vong và các nguy
cơ cho người mới bị tăng huyết áp; Là cơ hội tốt để ngăn chặn bệnh tăng
huyết áp và các biến chứng của nó.
*
Bệnh cao huyết áp
Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức
Nước
Mỹ nay 281 triệu người,trong đó,hơn 60 triệu người mang bệnh cao áp
huyết (bạn tính,chưa đến 5 người,đã có 1 người cao áp huyết).
Bệnh
cao áp huyết (hypertension,high blood pressure) nguy hiểm,đưa đến những
biến chứng như tai biến mạch máu não (stroke),chết cơ tim cấp tính
(heart attack),suy tim,suy thận. Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ.Khổ
cái,trong đa số các trường hợp,cao áp huyết không gây triệu chứng.Nhiều
vị không biết mình mang bệnh,tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì
khác,được bác sĩ cho biết có cao áp huyết.Cho nên,cao áp huyết nổi danh
là một ‘’căn bệnh thầm lặng’’.
Cao
áp huyết là gì? Con tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể qua
những hệ thống mạch máu gọi là động mạch.Ví như một máy bơm nước đẩy
nước qua các ống dẫn.Khi máu được tim bơm đầy,và chảy trong lòng các
mạch máu,sức ép của máu vào thành mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure)
gọi là áp huyết (blood pressure).Áp huyết thay đổi tùy lúc, và tùy các
hoạt động của cơ thể.Áp huyết xuống thấp hơn lúc ta ngủ,nghỉ và lên cao
hơn khi tinh thần ta kích động,buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể
dục,chơi thể thao.
Áp
huyết được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90.Số trên (140) được gọi là
áp suất systolic (áp suất tâm thu): Sức ép của máu vào lòng động mạch
mỗi khi tim co bóp để bơm máu ra khỏi tim.Số dưới (90) được gọi áp suất
diastolic (áp suất tâm trương): Áp suất trong lòng động mạch khi con tim
dãn ra giữa hai nhịp co bóp.Số trên tượng trưng áp suất cực đại
(maximum) trong lòng động mạch và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu
(minimum) trong lòng động mạch.
Theo
sự phân loại mới,áp suất systolic bình thường dưới 120 và áp suất
diastolic dưới 80.Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (đo ít nhất
3 lần,vào 3 dịp khác nhau),cao độ
1:
Áp suất systolic: 140 đến 159,áp suất diastolic: 90 đến 99,cao độ 2: áp
suất systolic: từ 160 trở lên,áp suất diastolic: từ 100 trở lên.
Những
vị có áp suất systolic trong khoảng từ 120 đến 139,hoặc áp suất
diastolic từ 80 đến 89,nay được xem là tiền cao áp huyết
(prehypertension),sau dễ tiến đến cao áp huyết.
NGUYÊN NHÂN
Ðến
90% các trường hợp cao áp huyết,nguyên nhân của bệnh chưa được biết
rõ,hoặc nói cách khác,với trình độ y khoa hiện tại,người ta chưa tìm ra
được nguyên nhân.Một số như các trường hợp cao áp huyết gây do uống rượu
nhiều quá,do bệnh của tuyến nội tiết,bệnh thận.
Có một số yếu tố ảnh hưởng,khiến người nọ có thể dễ mang bệnh cao áp huyết hơn người kia:
-
Yếu tố gia đình: Cao áp huyết có tính di truyền.Có cha mẹ,anh em ruột
cao áp huyết, đi khám bác sĩ,bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn nhé.
- Ðàn ông: Ðàn ông dễ cao áp huyết hơn phụ nữ.Tuy vậy,phụ nữ,sau khi mãn kinh, cũng dễ cao áp huyết hơn lúc còn kinh.
- Tuổi tác: Cao áp huyết dễ xảy ra sau tuổi 35.
- Giòng giống: Người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn.
- Béo mập: Khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.
- Bệnh tiểu đường: Tiểu đường và cao áp huyết như đôi bạn thân,hay đi đôi với nhau, lại cùng nhau phá hoại tim và thận mạnh hơn.
-
Rượu: Các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa
đến cao áp huyết,đồng thời cũng làm tăng tỷ lệ bị tai biến mạch máu não
và bệnh thận.
- Ðời sống thiếu vận động: Ðời sống thiếu vận động dễ gây béo mập và béo mập,như đã biết,có thể đưa đến cao áp huyết.
BIẾN CHỨNG CỦA CAO ÁP HUYẾT
Bệnh
cao áp huyết,không chữa trị,làm hại cơ thể ta nhiều cách.Áp huyết cao
hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn.Con
tim lúc nào cũng gắng sức, sau trở thành mệt mỏi và yếu dần.Cho đến một
lúc,con tim suy yếu sẽ không còn bơm đủ máu,không đáp ứng được nhu cầu
của các cơ quan trong cơ thể,nhất là khi người bệnh vận động,gây các
triệu chứng mau mệt,choáng váng,khó thở...,nhất là khi vận động.
Áp
suất cao trong các mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch
máu. Nhưng chỉ tổn thương trong lòng các mạch máu dễ bị chất mỡ
cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu
bám vào.Cơ chế dây chuyền này lại càng làm lòng các mạch máu tổn thương
thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại.Bạn tưởng tượng,nếu các mạch máu dồn
máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại,dĩ nhiên đến
một ngày nào đó,sẽ không còn mang đủ máu đến để nuôi tim.Nếu một phần
tim thiếu máu nuôi trầm trọng,phần tim đó có thể chết và gây ra hiện
tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).
Tương
tự,cao áp huyết làm tổn thương các mạch máu nuôi óc,nuôi thân,nuôi
mắt,... gây các biến chứng tai biến mạch máu não,suy thận,giảm thị
giác,...So với người thường, người cao áp huyết,nếu không chữa,dễ bị
bệnh hẹp tắc các động mạch tim khiến tim đâm ra thiếu máu nuôi (ischemic
heart disease) gấp 3 lần,dễ suy tim gấp 6 lần và dễ bị tai biến mạch
máu não gấp 7 lần.
ĐỊNH BỆNH
Ða
số người cao áp huyết không có triệu chứng.Một số vị có những triệu
chứng mơ hồ như hồi hộp (cảm thấy tim đập mạnh),nhức đầu,chóng
mặt,...Cách tốt nhất,cứ 1-2 năm,dù chẳng cảm thấy mình có bệnh gì,bạn
cũng nên đi khám bác sĩ và nhớ đo áp huyết,nhất là nếu bạn lại có những
yếu tố không tốt như đã kể trên.
Với
bác sĩ,định bệnh cao áp huyết thường chẳng khó gì.Một người xem là có
cao áp huyết,nếu áp huyết cao từ 140/90 trở lên,đo 3 lần vào 3 dịp thăm
khám khác nhau (người bệnh không nên dùng cà-phê,hút thuốc lá trước
đó,nên ngồi nghỉ một lát,rồi áp huyết được đo ở tư thế ngồi hay nằm).Sau
khi xác định một người có cao áp huyết,để tìm xem các cơ quan bên trong
cơ thể đã tổn thương do cao áp huyết hay chưa,để từ đó,sẽ hoạch định
đường hướng trị liệu,bác sĩ sẽ khám kỹ mắt,tim,các mạch máu.Ðồng thời,
bác sĩ cho thử máu,thử nước tiểu, làm tâm điện đồ và chụp phim ngực
(chest X-ray: chúng ta hay quen miệng gọi phim phổi). Những thử nghiệm
và phim ngốc này giúp bác sĩ tìm hiểu thêm được người bệnh có cao
cholesterol trong máu hay không,tim,thận đã tổn thương vì cao áp huyết
hay chưa.Ðây là những yếu tố quan trọng cần nắm vững trước khi bác sĩ
quyết định trị liệu bằng phương cách nào.
A.-
Nhưng nếu bạn mang bệnh cao áp huyết,khi đi khám bệnh,bạn nên kể bệnh
như thế nào nhỉ.Hay ta thử nghe một vị biết cách kể bệnh,trình bày cho
bác sĩ nghe vấn đề cao áp huyết của mình:
Tôi
đến đây hôm nay nhờ bác sĩ xem hộ tôi bệnh cao áp huyết.Tôi năm nay 45
tuổi, sang Mỹ mới 1 tháng.2 năm trước,một hôm đau bụng,tôi đi khám bác
sĩ,được bác sĩ cho biết áp huyết tôi hôm đó 142 trên 90.Áp huyết đo lại 2
lần sau đó cũng vẫn cao trên 140/90.Bác sĩ kết luận là tôi có cao áp
huyết nhẹ.Bác sĩ cho thử máu,thử nước tiểu,làm tâm điện đồ,chụp phim
phổi (tôi nghe nói,ở bên này,người Mỹ gọi là ‘’chest X-ray’’,dịch là
phim ngực),và cho biết tôi không bị tiểu đường,cao cholesterol hay bị
bệnh gì khác.Sau 3 tháng theo dõi và khuyên tôi bỏ thuốc lá,ăn
lạt,thường xuyên vận động không có kết quả,bác sĩ cho tôi uống Aldomet
250 mg,ngày 3 lần.Áp huyết tôi xuống còn 120/80,bác sĩ bảo là tốt.Có
điều Aldomet hay làm tôi mệt mỏi và buồn ngủ.Giữa tôi với bác sĩ,tôi
cũng xin nói thực,nó cũng làm vấn đề chồng vợ của tôi bị suy giảm.Tôi
ngưng Aldomet từ ngày qua Mỹ 1 tháng trước và từ đó đến nay,không dùng
thuốc gì cả.Tôi hoàn toàn không có triệu chứng gì bất thường.Tôi bỏ hẳn
thuốc lá 2 năm trước,khi được biết bị cao áp huyết,theo lời khuyên của
bác sĩ.Tôi không uống rượu thường xuyên,chỉ thỉnh thoảng cuối tuần làm
vài lon bia với bạn bè cho vui.
Bạn
cũng nhớ cho bác sĩ biết bạn có hút thuốc lá,có uống rượu,hoặc đang
dùng bất cứ thuốc nào không,kể cả những thuốc mua bên ngoài không cần
toa bác sĩ,vì nhiều thuốc,như thuốc ngừa thai,thuốc chữa sổ mũi,nghẹt
mũi (Actifed, Dimetapp, Sudafed,...) có thể làm áp huyết tăng cao.
CHỮA TRỊ
Cao
áp huyết cần được chữa trị cẩn thận,để giảm thiểu những biến chứng,giúp
ta sống lâu hơn và vui hơn.Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh và
cũng tùy vào nhiều yếu tố khác.
Các
phương pháp chữa trị lúc chưa cần dùng đến thuốc: Xuống cân nếu béo
mập,ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo,bỏ thuốc lá,bớt uống
rượu,thường xuyên vận động.Mỗi người có một sức nặng lý tưởng so với
chiều cao và vóc người.Nếu người cao áp huyết có sức nặng trên sức nặng
lý tưởng,bác sĩ thường khuyên người bệnh tìm cách xuống ký bằng ăn kiêng
(diet) và vận động (exercise).
Về
mặt chữa bằng thuốc,có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi đặt
bút biên toa. Ta cố đưa áp huyết xuống dưới 140/90 (ở người tiểu
đường,người suy thận,nên dưới 130/80), với một thuốc rẻ,không gây phản
ứng phụ (side effects),ngày dùng chỉ một lần cho tiện. (Nguyên tắc
rẻ,đẹp,bền ở đâu cũng đúng.)
Thuốc
chữa cao áp huyết ở Mỹ nay có 8 loại: Diuretics,ACE
inhibitors,Angiotensin II receptor blockers,Calcium channel
blockers,Beta blockers,Alpha blockers,Direct vasodilators, Centrally
acting agents, tác dụng theo những cơ chế khác nhau,giá cả cũng rất khác
biệt.
Thuốc
nào cũng có mặt lợi và hại,cùng những tác dụng phụ của nó.Trong đa số
các trường hợp cao áp huyết,những tài liệu hiện thời ở Mỹ đều khuyên
chúng ta nên thử thuốc thuộc loại Diuretics (lợi tiểu) trước,vì thuốc
này gần với nguyên tắc ‘’rẻ,đẹp,bến’’ nhất,rất hữu hiệu,lại rẻ,dùng lâu
dài không cháy túi tiền.
Nhiều
thuốc cao áp huyết có tác dụng chữa được cả bệnh khác,chẳng hạn các
thuốc propanolol,timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên migraine,hai
thuốc Hytrin,Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ
tuyến.Khéo dùng thuốc,ta có thể một ná bắn hai chim,dùng một thuốc chữa
cả hai bệnh.
Bạn
nên uống thuốc đều,không nên tự thay đổi lượng thuốc hoặc ngưng thuốc
khi thấy áp huyết đã xuống lại bình thường và nhớ trở lại tái khám đúng
hẹn với bác sĩ.Cao áp huyết là bệnh kinh niên,suốt đời ta cần chữa kỹ.
Sự
chữa trị nào trong y khoa cũng là tính toán,dò dẫm,bạn nên để bác sĩ có
dịp thi thố tài năng vài lần.Dùng một thuốc cao áp huyết không hợp,gây
cho bạn phản ứng khó chịu,bạn nên trở lại cho bác sĩ biết,nhờ bác sĩ
điều chỉnh sự chữa trị,có khi đổi một thuốc khác xem sao. Bạn chớ vội
nghe rỉ tai: Thuốc tây ‘’nóng’’ lắm,chỉ nên dùng (như thế thì...tội cho
thuốc tây lắm lắm,một thuốc làm bạn khó chịu,hàng trăm thuốc khác hàm
oan).Rồi mất tiền vào những chữa trị chẳng có sách vở nào nói đến,cho
đến một sáng đẹp trời,bạn mở mắt thức dậy,thấy một bên người liệt vì tai
biến mạch máu não.Muộn mất rồi.
Cao
áp huyết,‘’căn bệnh thầm lặng’’,lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của
cơ thể và rút ngắn tuổi thọ.Khám phá anh chàng thầm lặng này,đặt anh ta
vào vòng kiểm soát,ta cứu vãn được nhiều việc.
|